★ Hành Trình Chân Lý

Tư liệu

Cuộc đời & sự nghiệp Chủ tịch Hồ Chí Minh

39 mốc sự kiện từ năm 1890 đến nay – kèm trích dẫn lời Bác và ý nghĩa đối với tư tưởng – cùng phim tư liệu, hình ảnh lịch sử và giọng nói của Bác. Mọi nội dung đều gắn với chương giáo trình liên quan.

Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1946
Chủ tịch Hồ Chí Minh, khoảng năm 1946

Dòng thời gian cuộc đời & sự nghiệp

39 mốc sự kiện, chia theo các giai đoạn hình thành và phát triển tư tưởng Hồ Chí Minh (Chương 2 giáo trình). Bấm “Đọc chi tiết” ở mỗi mốc để xem đầy đủ nội dung, trích dẫn và ý nghĩa.

1890 – 1911

Hình thành tư tưởng yêu nước và chí hướng cứu nước

Lớn lên trong một gia đình nhà nho yêu nước, trên quê hương giàu truyền thống đấu tranh, chứng kiến cảnh nước mất nhà tan và sự thất bại của các phong trào cứu nước, người thanh niên Nguyễn Tất Thành sớm nuôi chí đuổi thực dân, giành độc lập, và quyết định ra đi tìm con đường mới.

  1. 19/5/1890

    Ra đời tại quê hương Nam Đàn, Nghệ An

    Chủ tịch Hồ Chí Minh, tên khai sinh là Nguyễn Sinh Cung, sinh ra tại quê ngoại – làng Hoàng Trù (làng Chùa), lớn lên ở quê nội – làng Kim Liên (làng Sen), huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An.

    Đọc chi tiết

    Thân phụ là cụ Nguyễn Sinh Sắc (1862–1929), một nhà nho xuất thân từ nông dân, giàu lòng yêu nước, đỗ Phó bảng năm 1901 nhưng không ham quan trường; quan điểm "học để làm người", thương dân và tư tưởng thân dân của cụ ảnh hưởng sâu sắc tới người con. Thân mẫu là bà Hoàng Thị Loan (1868–1901), người phụ nữ hiền hậu, đảm đang, hết lòng vì chồng con. Người có chị gái là Nguyễn Thị Thanh và anh trai là Nguyễn Sinh Khiêm – đều tham gia hoạt động yêu nước chống Pháp.

    Nghệ An – Hà Tĩnh là vùng đất có truyền thống hiếu học và đấu tranh kiên cường chống ngoại xâm, quê hương của nhiều sĩ phu yêu nước như Phan Đình Phùng, Phan Bội Châu. Cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp đã hoàn thành việc xâm lược Việt Nam, các phong trào Cần Vương liên tiếp thất bại; không khí bi phẫn của thời cuộc thấm vào tâm hồn cậu bé Nguyễn Sinh Cung từ rất sớm.

    Ý nghĩa: Truyền thống gia đình, quê hương và chủ nghĩa yêu nước Việt Nam là nền tảng đầu tiên hình thành nhân cách và lòng yêu nước của Hồ Chí Minh – một trong những cơ sở hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh (giá trị truyền thống dân tộc).
    Liên hệ Chương 2 – Cơ sở & quá trình hình thành →
  2. 1895 – 1901

    Những năm tháng ở Huế và nỗi đau mất mẹ

    Năm 1895, Nguyễn Sinh Cung theo cha mẹ vào kinh thành Huế khi cụ Nguyễn Sinh Sắc vào kinh dự thi. Năm 1901, bà Hoàng Thị Loan qua đời tại Huế; Người trở về quê học chữ Hán và được cha đổi tên thành Nguyễn Tất Thành.

    Đọc chi tiết

    Những năm sống ở Huế, cậu bé được tận mắt chứng kiến cảnh vua quan triều Nguyễn bất lực, người dân lao động khổ cực và sự hống hách của thực dân Pháp ngay tại kinh đô. Đầu năm 1901, thân mẫu qua đời sau khi sinh người con út; Nguyễn Sinh Cung khi ấy mới 11 tuổi, cùng em nhỏ trải qua những ngày tháng mất mát lớn.

    Trở về Nghệ An, Người theo học chữ Hán với các thầy đồ yêu nước trong vùng, tiếp xúc với không khí bàn luận thời cuộc của các sĩ phu. Cùng năm 1901, cụ Nguyễn Sinh Sắc đỗ Phó bảng và theo tục lệ đổi tên cho con trai là Nguyễn Tất Thành – với mong ước "tất thành" (ắt sẽ thành công).

    Ý nghĩa: Vốn Hán học được tiếp thu từ nhỏ giúp Hồ Chí Minh sau này hiểu sâu sắc tư tưởng phương Đông (Nho giáo, Phật giáo), biết kế thừa những yếu tố tích cực như triết lý hành động, tư tưởng nhập thế, tu thân – một phần của tinh hoa văn hóa nhân loại trong tư tưởng của Người.
    Liên hệ Chương 2 – Cơ sở & quá trình hình thành →
  3. 1906 – 1908

    Học Trường Quốc học Huế, tham gia phong trào chống thuế

    Năm 1906, Nguyễn Tất Thành vào Huế lần thứ hai, học Trường Pháp – Việt Đông Ba rồi Trường Quốc học Huế. Tháng 4/1908, Người tham gia phong trào chống thuế của nông dân Trung Kỳ và bị nhà trường đuổi học.

    Đọc chi tiết

    Việc học chữ Pháp, tiếp xúc với văn hóa phương Tây đã khơi gợi ở người thanh niên mong muốn tìm hiểu những gì ẩn giấu sau khẩu hiệu "Tự do – Bình đẳng – Bác ái" của nước Pháp. Sau này Người kể lại rằng khi ấy mình rất muốn làm quen với nền văn minh Pháp, tìm xem những gì ẩn giấu đằng sau những chữ ấy.

    Năm 1908, phong trào chống thuế ("xin xâu") của nông dân bùng nổ ở các tỉnh Trung Kỳ và lan tới Huế. Nguyễn Tất Thành tham gia đoàn biểu tình, làm phiên dịch cho đồng bào trong cuộc đối thoại với viên Khâm sứ Pháp. Sau sự kiện này, Người bị thực dân theo dõi và bị đuổi học – lần đầu tiên trực tiếp đứng về phía quần chúng lao động trong cuộc đấu tranh.

    Ý nghĩa: Lần đầu tiên tham gia đấu tranh cùng quần chúng, Nguyễn Tất Thành cảm nhận sức mạnh của nhân dân – mầm mống của quan điểm "cách mệnh là việc chung của cả dân chúng" về sau.
    Liên hệ Chương 2 – Cơ sở & quá trình hình thành →
  4. 1909 – 1911

    Dạy học ở Phan Thiết và quyết định ra nước ngoài

    Rời Huế vào Nam, Nguyễn Tất Thành dạy học tại Trường Dục Thanh (Phan Thiết) – ngôi trường do các sĩ phu yêu nước lập ra theo tinh thần Duy Tân. Cuối năm 1910, Người vào Sài Gòn chuẩn bị cho chuyến đi ra nước ngoài.

    Đọc chi tiết

    Tại Trường Dục Thanh, Người dạy chữ Quốc ngữ, chữ Hán, thể dục, giáo dục cho học trò lòng yêu nước, thương dân. Đây cũng là thời gian Người suy nghĩ sâu sắc về con đường cứu nước của các bậc tiền bối.

    Hồ Chí Minh rất khâm phục các bậc tiền bối nhưng không tán thành con đường của họ: Người cho rằng Phan Bội Châu dựa vào Nhật để đánh Pháp thì chẳng khác gì "đưa hổ cửa trước, rước beo cửa sau"; Phan Châu Trinh chủ trương cải lương, dựa vào Pháp để đòi cải cách thì chẳng khác gì "xin giặc rủ lòng thương"; còn phong trào của Hoàng Hoa Thám tuy thực tế hơn nhưng vẫn mang nặng cốt cách phong kiến. Từ đó, Người quyết định sang phương Tây – sang chính nước Pháp – để tìm hiểu xem họ làm thế nào, rồi trở về giúp đồng bào.

    “Tôi muốn đi ra ngoài, xem nước Pháp và các nước khác. Sau khi xem xét họ làm như thế nào, tôi sẽ trở về giúp đồng bào chúng ta.”— Hồ Chí Minh, trả lời nhà báo Mỹ Anna Louise Strong (1965)
    Ý nghĩa: Sự lựa chọn hướng đi sang phương Tây là một quyết định độc lập, sáng tạo – thể hiện nhân tố chủ quan (tư duy độc lập, đầu óc phê phán) trong quá trình hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh.
    Liên hệ Chương 2 – Cơ sở & quá trình hình thành →
1911 – 1920

Tìm thấy con đường cứu nước, giải phóng dân tộc

Mười năm bôn ba qua nhiều châu lục, vừa lao động kiếm sống vừa học tập, khảo sát thực tiễn, Nguyễn Tất Thành – Nguyễn Ái Quốc đi từ chủ nghĩa yêu nước đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, tìm ra con đường cứu nước đúng đắn: con đường cách mạng vô sản.

  1. 5/6/1911

    Ra đi tìm đường cứu nước từ bến Nhà Rồng

    Với tên gọi Văn Ba, Nguyễn Tất Thành làm phụ bếp trên tàu buôn Amiral Latouche-Tréville, rời bến Nhà Rồng (Sài Gòn) sang Pháp, mở đầu hành trình 30 năm tìm đường cứu nước.

    Đọc chi tiết

    Người ra đi hai bàn tay trắng, tự lao động để sống và học tập. Đầu tháng 7/1911, tàu cập cảng Mác-xây (Marseille); sau đó Người làm việc trên tàu, ghé qua nhiều hải cảng. Tháng 9/1911, Người viết đơn xin vào học Trường Thuộc địa ở Pa-ri nhưng không được chấp nhận.

    Ngày 5/6 hằng năm được lấy làm ngày kỷ niệm Bác Hồ ra đi tìm đường cứu nước; bến Nhà Rồng nay là Bảo tàng Hồ Chí Minh – chi nhánh Thành phố Hồ Chí Minh.

    Ý nghĩa: Khác các bậc tiền bối hướng sang phương Đông, Nguyễn Tất Thành chọn sang phương Tây – nơi có khoa học kỹ thuật phát triển, có tư tưởng dân chủ – để tìm hiểu tận gốc kẻ thù và tìm con đường cứu nước mới.
    Liên hệ Chương 2 – Cơ sở & quá trình hình thành →
  2. 1912 – 1917

    Khảo sát thực tiễn qua nhiều châu lục

    Trong những năm này, Người làm nhiều nghề để kiếm sống và đi qua nhiều nước ở châu Âu, châu Phi, châu Mỹ; có thời gian sống ở Mỹ (khoảng 1912–1913) và ở Anh (1913–1917).

    Đọc chi tiết

    Người làm phụ bếp, cào tuyết, đốt lò, bồi bàn… vừa lao động vừa tự học ngoại ngữ, đọc sách báo, tìm hiểu các cuộc cách mạng tư sản Mỹ, Pháp. Ở Mỹ, Người tìm hiểu Tuyên ngôn độc lập năm 1776; ở Anh, Người tham gia hoạt động trong tổ chức của những người lao động hải ngoại.

    Qua khảo sát, Người rút ra nhận thức quan trọng: ở đâu bọn đế quốc, thực dân cũng tàn bạo, độc ác; ở đâu những người lao động cũng bị áp bức, bóc lột dã man. Nhân dân lao động các nước thuộc địa và chính quốc đều là bạn, chủ nghĩa đế quốc là kẻ thù chung. Người cũng nhận thấy các cuộc cách mạng tư sản là "cách mệnh không đến nơi" – tiếng là cộng hòa, dân chủ nhưng trong thì tước lục công nông, ngoài thì áp bức thuộc địa.

    Ý nghĩa: Nhận thức về tính chất "chưa triệt để" của cách mạng tư sản và về kẻ thù chung của nhân dân lao động là bước chuẩn bị quan trọng để Người đến với chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng đoàn kết quốc tế.
    Liên hệ Chương 2 – Cơ sở & quá trình hình thành →
  3. 1917 – 1919

    Trở lại Pháp, gia nhập Đảng Xã hội Pháp

    Cuối năm 1917, Người trở lại Pháp, sống và hoạt động ở Pa-ri trong phong trào công nhân Pháp và cộng đồng người Việt yêu nước. Năm 1919, Người gia nhập Đảng Xã hội Pháp – đảng duy nhất ở Pháp khi đó bênh vực các dân tộc thuộc địa.

    Đọc chi tiết

    Ở Pa-ri, Người làm thợ ảnh, vẽ đồ cổ mỹ nghệ Trung Hoa để kiếm sống; cùng các nhà yêu nước Phan Châu Trinh, Phan Văn Trường hoạt động trong Hội những người An Nam yêu nước. Cách mạng Tháng Mười Nga (1917) thành công đã gây tiếng vang lớn, ảnh hưởng sâu sắc tới nhận thức của Người.

    Ý nghĩa: Hoạt động trong Đảng Xã hội Pháp giúp Nguyễn Ái Quốc tiếp cận phong trào công nhân và tư tưởng xã hội chủ nghĩa, tạo tiền đề tiếp nhận chủ nghĩa Mác – Lênin.
    Liên hệ Chương 2 – Cơ sở & quá trình hình thành →
  4. 18/6/1919

    Bản yêu sách của nhân dân An Nam

    Thay mặt Hội những người An Nam yêu nước, Người ký tên Nguyễn Ái Quốc gửi tới Hội nghị Véc-xây (Versailles) bản yêu sách 8 điểm đòi các quyền tự do, dân chủ tối thiểu cho nhân dân Việt Nam.

    Đọc chi tiết

    Bản yêu sách đòi: ân xá tù chính trị; cải cách pháp lý ở Đông Dương, bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật; tự do báo chí, tự do ngôn luận, tự do lập hội, hội họp; tự do cư trú, xuất ngoại; tự do học tập, mở trường kỹ thuật; thay chế độ ra sắc lệnh bằng chế độ ra đạo luật; có đại biểu người bản xứ trong Nghị viện Pháp. Người còn chuyển bản yêu sách thành thơ "Việt Nam yêu cầu ca" để phổ biến rộng rãi.

    Các nước đế quốc thắng trận không xem xét bản yêu sách. Nhưng sự kiện đã gây tiếng vang lớn, cái tên Nguyễn Ái Quốc lần đầu xuất hiện trên chính trường quốc tế, làm thức tỉnh tinh thần dân tộc của người Việt Nam.

    Ý nghĩa: Từ thất bại của bản yêu sách, Người rút ra bài học: muốn được giải phóng, các dân tộc chỉ có thể trông cậy vào lực lượng của bản thân mình – cơ sở của tư tưởng độc lập, tự chủ, tự lực tự cường.
    Liên hệ Chương 2 – Cơ sở & quá trình hình thành →
  5. 7/1920

    Đến với chủ nghĩa Lênin

    Nguyễn Ái Quốc đọc "Sơ thảo lần thứ nhất những luận cương về vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa" của V.I. Lênin đăng trên báo L'Humanité (số ra ngày 16 và 17/7/1920) và tìm thấy con đường giải phóng dân tộc.

    Đọc chi tiết

    Luận cương của Lênin chỉ ra mối liên hệ giữa cách mạng vô sản ở chính quốc với phong trào giải phóng dân tộc ở thuộc địa, khẳng định sự cần thiết phải đoàn kết giữa giai cấp vô sản các nước với các dân tộc bị áp bức. Đây chính là lời giải cho câu hỏi mà Người trăn trở suốt gần mười năm.

    Từ đây, Nguyễn Ái Quốc hoàn toàn tin theo Lênin, đứng về Quốc tế thứ ba. Người khẳng định: "Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản."

    “Luận cương của Lênin làm cho tôi rất cảm động, phấn khởi, sáng tỏ, tin tưởng biết bao! Tôi vui mừng đến phát khóc lên. Ngồi một mình trong buồng mà tôi nói to lên như đang nói trước quần chúng đông đảo: "Hỡi đồng bào bị đọa đày đau khổ! Đây là cái cần thiết cho chúng ta, đây là con đường giải phóng chúng ta!"”— Hồ Chí Minh, Con đường dẫn tôi đến chủ nghĩa Lênin (1960)
    Ý nghĩa: Đây là bước ngoặt căn bản: Nguyễn Ái Quốc tìm thấy con đường cứu nước – kết hợp chủ nghĩa yêu nước với chủ nghĩa Mác – Lênin, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
    Liên hệ Chương 3 – Độc lập dân tộc & CNXH →
  6. 12/1920

    Đại hội Tua – người cộng sản Việt Nam đầu tiên

    Tại Đại hội lần thứ XVIII Đảng Xã hội Pháp họp ở thành phố Tua (Tours) cuối tháng 12/1920, Nguyễn Ái Quốc bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế III (Quốc tế Cộng sản) và trở thành một trong những người tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp.

    Đọc chi tiết

    Tại Đại hội, Người phát biểu tố cáo tội ác của chủ nghĩa thực dân Pháp ở Đông Dương và kêu gọi Đảng Xã hội hành động thiết thực để ủng hộ các dân tộc bị áp bức. Lý do Người bỏ phiếu cho Quốc tế III rất giản dị: đó là tổ chức duy nhất thật sự quan tâm đến vấn đề giải phóng thuộc địa.

    Sự kiện này đánh dấu việc Nguyễn Ái Quốc từ một người yêu nước trở thành người cộng sản – người cộng sản đầu tiên của Việt Nam.

    Ý nghĩa: Bước chuyển từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa cộng sản, từ giác ngộ dân tộc đến giác ngộ giai cấp – mở ra con đường đưa cách mạng Việt Nam vào quỹ đạo cách mạng vô sản.
    Liên hệ Chương 2 – Cơ sở & quá trình hình thành →
1921 – 1930

Hình thành cơ bản tư tưởng về cách mạng Việt Nam

Hoạt động ở Pháp, Liên Xô, Trung Quốc, Xiêm, Nguyễn Ái Quốc vừa tham gia phong trào cộng sản quốc tế, vừa truyền bá chủ nghĩa Mác – Lênin về nước, chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho việc thành lập Đảng. Những quan điểm cơ bản về cách mạng Việt Nam được hình thành trong giai đoạn này.

  1. 1921 – 1923

    Hội Liên hiệp thuộc địa và báo Người cùng khổ

    Ở Pa-ri, Nguyễn Ái Quốc cùng những người yêu nước các thuộc địa Pháp lập ra Hội Liên hiệp thuộc địa (1921) và xuất bản báo Le Paria (Người cùng khổ, số đầu ra ngày 1/4/1922).

    Đọc chi tiết

    Người viết nhiều bài cho các báo L'Humanité (Nhân đạo), La Vie Ouvrière (Đời sống thợ thuyền), Le Paria…, tố cáo tội ác của chủ nghĩa thực dân và thức tỉnh nhân dân các dân tộc thuộc địa. Năm 1922, Người viết vở kịch "Con rồng tre" châm biếm vua bù nhìn Khải Định sang Pháp.

    Những bài viết thời kỳ này về sau được tập hợp trong tác phẩm "Bản án chế độ thực dân Pháp" (xuất bản tại Pa-ri năm 1925) – bản cáo trạng đanh thép đối với chủ nghĩa thực dân, đồng thời chỉ ra con đường đấu tranh cho các dân tộc bị áp bức.

    Ý nghĩa: Hình thành quan điểm: chủ nghĩa thực dân là kẻ thù chung của các dân tộc thuộc địa và giai cấp công nhân chính quốc; cách mạng giải phóng dân tộc phải đoàn kết với cách mạng vô sản ở chính quốc.
    Liên hệ Chương 3 – Độc lập dân tộc & CNXH →
  2. 6/1923 – 10/1924

    Ở Liên Xô – học tập và hoạt động trong Quốc tế Cộng sản

    Tháng 6/1923, Nguyễn Ái Quốc bí mật rời Pháp sang Liên Xô. Người dự Hội nghị Quốc tế Nông dân (10/1923), được bầu vào Ban Chấp hành; học tập, nghiên cứu ở Mát-xcơ-va và dự Đại hội V Quốc tế Cộng sản (6–7/1924).

    Đọc chi tiết

    Tại Đại hội V Quốc tế Cộng sản, Người phát biểu về vấn đề dân tộc và thuộc địa, phê phán việc nhiều đảng cộng sản ở chính quốc còn xem nhẹ vấn đề thuộc địa, và khẳng định vai trò to lớn của nông dân ở các nước thuộc địa trong cách mạng.

    Lênin qua đời (1/1924) khi Người đang ở Mát-xcơ-va và chưa có dịp được gặp Lênin; Người viết bài "Lênin và các dân tộc phương Đông" bày tỏ lòng kính yêu vị lãnh tụ.

    Ý nghĩa: Trực tiếp học tập lý luận và kinh nghiệm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô, Người củng cố niềm tin vào con đường cách mạng vô sản và phát triển quan điểm về vai trò của nông dân, về cách mạng thuộc địa.
    Liên hệ Chương 3 – Độc lập dân tộc & CNXH →
  3. 11/1924 – 1927

    Ở Quảng Châu – Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên

    Ngày 11/11/1924, Nguyễn Ái Quốc (lấy tên Lý Thụy) đến Quảng Châu (Trung Quốc). Tháng 6/1925, Người thành lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên, ra báo Thanh niên (số 1 ngày 21/6/1925) và mở các lớp huấn luyện cán bộ.

    Đọc chi tiết

    Nòng cốt của Hội là Cộng sản đoàn. Các lớp huấn luyện đào tạo nhiều thanh niên yêu nước, sau đó họ trở về nước tuyên truyền chủ nghĩa Mác – Lênin vào phong trào công nhân và phong trào yêu nước. Ngày ra số báo Thanh niên đầu tiên – 21/6 – được lấy làm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam.

    Các bài giảng của Người được tập hợp thành tác phẩm "Đường Kách mệnh" (1927). Tác phẩm trình bày mục đích, lực lượng, phương pháp cách mạng; khẳng định cách mạng là việc chung của dân chúng, công nông là gốc cách mệnh; nêu vai trò của đảng cách mạng và tư cách của người cách mạng. Năm 1928, Hội phát động phong trào "vô sản hóa", đưa hội viên vào nhà máy, hầm mỏ, đồn điền để rèn luyện và tuyên truyền trong công nhân.

    “Cách mệnh trước hết phải có cái gì? Trước hết phải có đảng cách mệnh, để trong thì vận động và tổ chức dân chúng, ngoài thì liên lạc với dân tộc bị áp bức và vô sản giai cấp mọi nơi. Đảng có vững cách mệnh mới thành công, cũng như người cầm lái có vững thuyền mới chạy.”— Hồ Chí Minh, Đường Kách mệnh (1927)
    Ý nghĩa: "Đường Kách mệnh" là sự chuẩn bị về tư tưởng, lý luận và tổ chức cho việc thành lập Đảng; nhiều quan điểm cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về cách mạng Việt Nam được trình bày lần đầu tiên ở đây.
    Liên hệ Chương 4 – Đảng & Nhà nước →
  4. 1927 – 1929

    Hoạt động ở châu Âu và Xiêm

    Sau khi Tưởng Giới Thạch phản bội cách mạng (4/1927), Người rời Quảng Châu đi Mát-xcơ-va, rồi sang một số nước châu Âu. Giữa năm 1928, Người đến Xiêm (Thái Lan), hoạt động trong cộng đồng Việt kiều với tên Thầu Chín.

    Đọc chi tiết

    Ở Xiêm, Người cùng ăn, cùng ở, cùng làm với bà con Việt kiều, mở lớp học, ra báo, tuyên truyền tinh thần yêu nước và đoàn kết, vận động bà con hướng về Tổ quốc. Trong khi đó, ở trong nước, phong trào cách mạng phát triển mạnh và năm 1929 xuất hiện ba tổ chức cộng sản hoạt động riêng rẽ: Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng và Đông Dương Cộng sản Liên đoàn.

    Ý nghĩa: Sự tồn tại của nhiều tổ chức cộng sản riêng rẽ đặt ra yêu cầu cấp bách phải thống nhất thành một đảng duy nhất – nhiệm vụ mà Nguyễn Ái Quốc đảm nhận.
    Liên hệ Chương 4 – Đảng & Nhà nước →
  5. 6/1 – 7/2/1930

    Hội nghị thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam

    Với tư cách phái viên của Quốc tế Cộng sản, Nguyễn Ái Quốc triệu tập và chủ trì Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản tại Cửu Long (Hương Cảng, Trung Quốc), thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.

    Đọc chi tiết

    Hội nghị thông qua Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chương trình tóm tắt và Điều lệ vắn tắt của Đảng – hợp thành Cương lĩnh chính trị đầu tiên. Cương lĩnh xác định phương hướng chiến lược: làm "tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản"; đánh đổ đế quốc Pháp và phong kiến, làm cho nước Việt Nam hoàn toàn độc lập; lực lượng cách mạng là công nhân, nông dân, đồng thời lôi kéo tiểu tư sản, trí thức, trung nông, lợi dụng hoặc trung lập phú nông, trung, tiểu địa chủ và tư sản dân tộc chưa ra mặt phản cách mạng; Đảng là đội tiên phong của giai cấp vô sản.

    Đại hội III của Đảng (1960) quyết định lấy ngày 3/2 hằng năm làm ngày kỷ niệm thành lập Đảng.

    Ý nghĩa: Đảng ra đời là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác – Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước – luận điểm sáng tạo của Hồ Chí Minh. Cương lĩnh đầu tiên thể hiện tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.
    Liên hệ Chương 4 – Đảng & Nhà nước →
1930 – 1941

Vượt qua thử thách, kiên trì giữ vững lập trường cách mạng

Đây là giai đoạn nhiều thử thách: quan điểm của Nguyễn Ái Quốc bị hiểu sai, Người bị tù đày và có thời gian phải tạm xa phong trào. Nhưng Người vẫn kiên trì bảo vệ quan điểm đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu – quan điểm về sau được thực tiễn chứng minh là đúng đắn.

  1. 10/1930

    Quan điểm của Nguyễn Ái Quốc bị hiểu sai

    Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ nhất (10/1930) thông qua Luận cương chính trị do Trần Phú soạn thảo, đổi tên Đảng thành Đảng Cộng sản Đông Dương và phê phán Hội nghị hợp nhất đầu năm 1930.

    Đọc chi tiết

    Do ảnh hưởng của khuynh hướng "tả" trong Quốc tế Cộng sản lúc bấy giờ – nhấn mạnh đấu tranh giai cấp, coi nhẹ vấn đề dân tộc – quan điểm của Nguyễn Ái Quốc về việc đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu, tập hợp rộng rãi mọi lực lượng yêu nước bị cho là thiên về dân tộc chủ nghĩa, chưa chú trọng đấu tranh giai cấp.

    Trong hoàn cảnh đó, Người vẫn kiên trì giữ vững quan điểm của mình, đồng thời giữ nghiêm kỷ luật của tổ chức.

    Ý nghĩa: Bài học về sự kiên định và bản lĩnh độc lập, sáng tạo: vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin phải phù hợp điều kiện cụ thể của một nước thuộc địa, nơi mâu thuẫn dân tộc là mâu thuẫn chủ yếu.
    Liên hệ Chương 3 – Độc lập dân tộc & CNXH →
  2. 6/6/1931 – 1933

    Bị bắt ở Hồng Kông – vụ án Tống Văn Sơ

    Ngày 6/6/1931, Nguyễn Ái Quốc (với tên Tống Văn Sơ) bị nhà cầm quyền Anh bắt giam tại Hồng Kông. Nhờ sự giúp đỡ của luật sư Frank Loseby và những người bạn tiến bộ, Người thoát khỏi việc bị trao cho thực dân Pháp và được trả tự do.

    Đọc chi tiết

    Thực dân Pháp đã kết án tử hình vắng mặt Nguyễn Ái Quốc và tìm mọi cách đòi dẫn độ Người. Luật sư Loseby kiên trì bào chữa, đưa vụ việc lên tới Hội đồng Cơ mật Hoàng gia Anh. Sau khi được thả, tin tức Nguyễn Ái Quốc đã mất trong tù được loan đi, giúp Người tránh được sự truy lùng và bí mật rời Hồng Kông.

    Ý nghĩa: Trong hoàn cảnh hiểm nghèo, Người vẫn giữ vững khí tiết và niềm tin cách mạng – một tấm gương về ý chí, nghị lực của người cộng sản.
    Liên hệ Chương 2 – Cơ sở & quá trình hình thành →
  3. 1934 – 1938

    Học tập, nghiên cứu ở Liên Xô

    Năm 1934, Người đến Mát-xcơ-va, học tập tại Trường Quốc tế Lênin và nghiên cứu tại Viện nghiên cứu các vấn đề dân tộc và thuộc địa; tiếp tục theo dõi, chỉ đạo phong trào cách mạng Đông Dương.

    Đọc chi tiết

    Đây là thời gian Người nghiên cứu sâu thêm lý luận Mác – Lênin. Đại hội VII Quốc tế Cộng sản (1935) điều chỉnh chủ trương, đề ra việc thành lập mặt trận nhân dân rộng rãi chống phát xít – hướng đi gần với những quan điểm Người đã nêu từ trước về tập hợp lực lượng.

    Ý nghĩa: Thời gian ở Liên Xô giúp Người chuẩn bị lý luận để trở về trực tiếp lãnh đạo cách mạng khi thời cơ đến.
    Liên hệ Chương 2 – Cơ sở & quá trình hình thành →
  4. 1938 – 1940

    Trở lại Trung Quốc, tìm đường về nước

    Cuối năm 1938, Người rời Liên Xô về Trung Quốc, hoạt động trong Bát lộ quân với tên Hồ Quang. Năm 1940, Người đến Côn Minh, Quế Lâm, liên lạc với tổ chức Đảng và gặp các đồng chí Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp.

    Đọc chi tiết

    Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ (9/1939), Nhật vào Đông Dương (9/1940), thời cơ cho cách mạng Việt Nam đang đến gần. Người khẩn trương chuẩn bị cán bộ, mở lớp huấn luyện, tìm đường trở về Tổ quốc để trực tiếp lãnh đạo cách mạng.

    Ý nghĩa: Nhạy bén nắm bắt thời cơ – một nét đặc sắc trong phương pháp cách mạng Hồ Chí Minh.
    Liên hệ Chương 3 – Độc lập dân tộc & CNXH →
1941 – 1969

Tư tưởng Hồ Chí Minh tiếp tục phát triển, hoàn thiện

Trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng lãnh đạo Cách mạng Tháng Tám thành công, xây dựng nhà nước dân chủ nhân dân, lãnh đạo hai cuộc kháng chiến và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc. Tư tưởng của Người về độc lập dân tộc, chủ nghĩa xã hội, Đảng, Nhà nước, đại đoàn kết, đạo đức, văn hóa… được bổ sung và phát triển toàn diện.

  1. 28/1/1941

    Trở về Tổ quốc – Pác Bó

    Sau 30 năm bôn ba, Nguyễn Ái Quốc trở về Tổ quốc qua cột mốc biên giới ở Pác Bó (Hà Quảng, Cao Bằng), sống và làm việc trong hang Cốc Bó.

    Đọc chi tiết

    Cuộc sống ở Pác Bó vô cùng gian khổ, nhưng Người vẫn ung dung, lạc quan, tự đặt tên suối Lênin, núi Các Mác. Người mở lớp huấn luyện cán bộ, ra báo "Việt Nam độc lập" (1/8/1941), dịch sách lý luận, viết "Lịch sử nước ta" (1942) bằng thơ lục bát để giáo dục lòng yêu nước cho nhân dân.

    “Dân ta phải biết sử ta, / Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam.”— Hồ Chí Minh, Lịch sử nước ta (1942)
    Ý nghĩa: Người về nước trực tiếp lãnh đạo là nhân tố quyết định chuyển hướng chiến lược, đưa cách mạng tới thắng lợi.
    Liên hệ Chương 5 – Đại đoàn kết & đoàn kết quốc tế →
  2. 10 – 19/5/1941

    Hội nghị Trung ương 8 – thành lập Mặt trận Việt Minh

    Nguyễn Ái Quốc chủ trì Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Pác Bó, hoàn chỉnh việc chuyển hướng chỉ đạo chiến lược: đặt nhiệm vụ giải phóng dân tộc lên hàng đầu. Ngày 19/5/1941, Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh) được thành lập.

    Đọc chi tiết

    Hội nghị nhận định mâu thuẫn chủ yếu là giữa dân tộc Việt Nam với đế quốc, phát xít Pháp – Nhật; tạm gác khẩu hiệu cách mạng ruộng đất, thay bằng khẩu hiệu tịch thu ruộng đất của đế quốc và Việt gian chia cho dân cày nghèo; giải quyết vấn đề dân tộc trong khuôn khổ từng nước Đông Dương; xác định chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang là nhiệm vụ trung tâm.

    Mặt trận Việt Minh tập hợp mọi tầng lớp nhân dân yêu nước trong các "Hội Cứu quốc" (công nhân, nông dân, thanh niên, phụ nữ, phụ lão…), trở thành hình thức đại đoàn kết toàn dân tộc rộng rãi nhất lúc bấy giờ.

    “Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của bộ phận, giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được.”— Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 (5/1941)
    Ý nghĩa: Quan điểm "giải phóng dân tộc là trên hết" mà Người kiên trì từ năm 1930 nay trở thành đường lối của toàn Đảng; Việt Minh là minh chứng sinh động cho tư tưởng đại đoàn kết toàn dân tộc với hình thức tổ chức là Mặt trận dân tộc thống nhất.
    Liên hệ Chương 5 – Đại đoàn kết & đoàn kết quốc tế →
  3. 8/1942 – 9/1943

    Ngục trung nhật ký

    Tháng 8/1942, lấy tên Hồ Chí Minh, Người sang Trung Quốc tranh thủ sự ủng hộ quốc tế thì bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giữ ở Quảng Tây, bị giải qua hàng chục nhà lao trong hơn một năm, đến tháng 9/1943 mới được trả tự do.

    Đọc chi tiết

    Trong cảnh tù đày khắc nghiệt, Người sáng tác tập thơ chữ Hán "Ngục trung nhật ký" (Nhật ký trong tù) gồm 133 bài, ghi lại hiện thực nhà tù và thể hiện tâm hồn cao đẹp, ý chí kiên cường, tinh thần lạc quan của người chiến sĩ cách mạng. Cuối tập nhật ký, Người ghi lại định nghĩa nổi tiếng về văn hóa (8/1943).

    “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa.”— Hồ Chí Minh (8/1943)
    Ý nghĩa: Tập thơ là tấm gương sáng về phẩm chất đạo đức cách mạng và tinh thần "thân thể ở trong lao, tinh thần ở ngoài lao"; định nghĩa văn hóa năm 1943 là cơ sở của tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa (Chương 6).
    Liên hệ Chương 6 – Văn hóa, đạo đức, con người →
  4. 22/12/1944

    Thành lập Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân

    Theo Chỉ thị của Hồ Chí Minh, Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân được thành lập tại khu rừng Trần Hưng Đạo (Cao Bằng) do đồng chí Võ Nguyên Giáp chỉ huy, gồm 34 chiến sĩ – tiền thân của Quân đội nhân dân Việt Nam.

    Đọc chi tiết

    Chỉ thị nêu rõ tên gọi đã thể hiện chính trị trọng hơn quân sự, tuyên truyền trọng hơn tác chiến. Ngay sau khi thành lập, Đội đánh thắng hai trận Phai Khắt và Nà Ngần. Ngày 22/12 trở thành Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam.

    Ý nghĩa: Thể hiện tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, kết hợp lực lượng chính trị và lực lượng vũ trang trong bạo lực cách mạng.
    Liên hệ Chương 3 – Độc lập dân tộc & CNXH →
  5. 8/1945

    Tân Trào – Tổng khởi nghĩa giành chính quyền

    Hội nghị toàn quốc của Đảng (13–15/8/1945) và Quốc dân Đại hội Tân Trào (16/8/1945) quyết định Tổng khởi nghĩa, bầu Ủy ban Dân tộc giải phóng Việt Nam do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Chỉ trong khoảng nửa tháng, nhân dân cả nước giành chính quyền.

    Đọc chi tiết

    Khi Nhật đầu hàng Đồng minh, Người nhận định thời cơ ngàn năm có một đã đến, kêu gọi: "Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta". Khởi nghĩa thắng lợi ở Hà Nội (19/8), Huế (23/8), Sài Gòn (25/8); ngày 30/8/1945 vua Bảo Đại thoái vị.

    Trước đó, khi đang ốm nặng ở Tân Trào, Người căn dặn đồng chí Võ Nguyên Giáp: lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập.

    Ý nghĩa: Cách mạng Tháng Tám là thắng lợi đầu tiên của tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường giải phóng dân tộc: cách mạng thuộc địa có thể chủ động giành thắng lợi, dựa vào sức mạnh toàn dân, chớp đúng thời cơ.
    Liên hệ Chương 3 – Độc lập dân tộc & CNXH →
  6. 2/9/1945

    Tuyên ngôn Độc lập – khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa

    Tại Quảng trường Ba Đình, trước hàng chục vạn đồng bào, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn Độc lập do Người soạn thảo tại căn nhà số 48 Hàng Ngang, Hà Nội.

    Đọc chi tiết

    Mở đầu Tuyên ngôn, Người trích dẫn Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp, từ quyền con người khái quát thành quyền dân tộc: "Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do". Tuyên ngôn tố cáo tội ác của thực dân Pháp, khẳng định nhân dân Việt Nam đã giành chính quyền từ tay Nhật chứ không phải từ tay Pháp.

    Ngày 2/9 trở thành Ngày Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

    “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do độc lập. Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy.”— Hồ Chí Minh, Tuyên ngôn Độc lập (2/9/1945)
    Ý nghĩa: Tuyên ngôn là văn kiện tiêu biểu cho tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc: độc lập, tự do là quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm của tất cả các dân tộc.
    Liên hệ Chương 3 – Độc lập dân tộc & CNXH →
  7. 3/9/1945

    Sáu nhiệm vụ cấp bách của Chính phủ

    Tại phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu sáu nhiệm vụ cấp bách: cứu đói; chống nạn mù chữ; tổ chức Tổng tuyển cử và xây dựng Hiến pháp; giáo dục tinh thần cần, kiệm, liêm, chính; bỏ thuế thân, thuế chợ, thuế đò và cấm thuốc phiện; thực hiện tự do tín ngưỡng, đoàn kết lương – giáo.

    Đọc chi tiết

    Chính quyền non trẻ đứng trước muôn vàn khó khăn: giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm. Hưởng ứng lời kêu gọi của Người, khắp nơi dấy lên phong trào "Hũ gạo cứu đói", "Tuần lễ vàng", "Bình dân học vụ" (xóa nạn mù chữ). Người đề nghị đồng bào cứ mười ngày nhịn ăn một bữa để lấy gạo cứu dân nghèo, và tự mình thực hành trước.

    “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì.”— Hồ Chí Minh, Thư gửi Ủy ban nhân dân các kỳ, tỉnh, huyện và làng (10/1945)
    Ý nghĩa: Thể hiện tư tưởng nhà nước "vì dân": mọi việc của Chính phủ đều nhằm mưu tự do, hạnh phúc cho nhân dân; đồng thời đặt nền móng giáo dục đạo đức cần, kiệm, liêm, chính cho cán bộ.
    Liên hệ Chương 4 – Đảng & Nhà nước →
  8. 1946

    Xây dựng nhà nước dân chủ và ngoại giao "hòa để tiến"

    Ngày 6/1/1946, cuộc Tổng tuyển cử đầu tiên bầu Quốc hội được tiến hành. Quốc hội khóa I họp phiên đầu tiên (2/3/1946), Hồ Chí Minh được bầu làm Chủ tịch Chính phủ. Ngày 9/11/1946, Quốc hội thông qua bản Hiến pháp đầu tiên của nước ta.

    Đọc chi tiết

    Để tránh phải cùng lúc đối phó nhiều kẻ thù, Người ký Hiệp định Sơ bộ (6/3/1946) với Pháp, thực hiện sách lược "hòa để tiến". Ngày 31/5/1946, Người sang thăm Pháp với tư cách thượng khách; trước khi đi, Người dặn cụ Huỳnh Thúc Kháng – quyền Chủ tịch nước – phương châm "dĩ bất biến, ứng vạn biến". Ngày 14/9/1946, Người ký bản Tạm ước với Pháp để kéo dài thời gian hòa hoãn, rồi trở về nước (cập cảng Hải Phòng ngày 20/10/1946).

    Hiến pháp năm 1946 khẳng định tất cả quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo.

    Ý nghĩa: Đặt nền móng cho Nhà nước của dân, do dân, vì dân và nhà nước pháp quyền (hợp hiến, hợp pháp); thể hiện nghệ thuật ngoại giao mềm dẻo, kiên định nguyên tắc của Hồ Chí Minh.
    Liên hệ Chương 4 – Đảng & Nhà nước →
  9. 19/12/1946

    Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến

    Trước việc thực dân Pháp ngày càng lấn tới, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến, mở đầu cuộc kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp. Trung ương Đảng và Chính phủ lên chiến khu Việt Bắc.

    Đọc chi tiết

    Đường lối kháng chiến của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh là kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh. Người kêu gọi: "Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ, không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc".

    “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa! Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ.”— Hồ Chí Minh, Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến (19/12/1946)
    Ý nghĩa: Thể hiện ý chí bảo vệ độc lập dân tộc và tư tưởng chiến tranh nhân dân, dựa vào sức mạnh đại đoàn kết toàn dân.
    Liên hệ Chương 3 – Độc lập dân tộc & CNXH →
  10. 1947 – 1949

    Sửa đổi lối làm việc, Thi đua ái quốc, Dân vận

    Trong những năm đầu kháng chiến, Người viết nhiều tác phẩm quan trọng về xây dựng Đảng, đạo đức cán bộ và công tác quần chúng: "Sửa đổi lối làm việc" (10/1947), "Lời kêu gọi thi đua ái quốc" (11/6/1948), bài báo "Dân vận" (15/10/1949).

    Đọc chi tiết

    "Sửa đổi lối làm việc" (ký tên X.Y.Z) bàn về tư cách người đảng viên, tự phê bình và phê bình, chống bệnh quan liêu, chủ nghĩa cá nhân, cách lãnh đạo, cách huấn luyện cán bộ; nêu rõ "cán bộ là cái gốc của mọi công việc".

    Bài "Dân vận" khẳng định nước ta là nước dân chủ, "bao nhiêu lợi ích đều vì dân, bao nhiêu quyền hạn đều của dân", và chỉ rõ dân vận là vận động tất cả lực lượng của mỗi một người dân không để sót một người dân nào. Lời kêu gọi thi đua ái quốc nêu mục đích "diệt giặc đói, diệt giặc dốt, diệt giặc ngoại xâm".

    “Dân vận kém thì việc gì cũng kém. Dân vận khéo thì việc gì cũng thành công.”— Hồ Chí Minh, Dân vận (1949)
    Ý nghĩa: Các tác phẩm này là nguồn trực tiếp của tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng trong sạch, về cán bộ, về phong cách làm việc và về đại đoàn kết (Chương 4, Chương 5).
    Liên hệ Chương 4 – Đảng & Nhà nước →
  11. 2/1951

    Đại hội II của Đảng – Đảng ra hoạt động công khai

    Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng họp tại Chiêm Hóa (Tuyên Quang), quyết định đưa Đảng ra hoạt động công khai với tên Đảng Lao động Việt Nam; Hồ Chí Minh được bầu làm Chủ tịch Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

    Đọc chi tiết

    Báo cáo chính trị của Người tổng kết chặng đường cách mạng từ khi thành lập Đảng và xác định nhiệm vụ đưa kháng chiến tới thắng lợi. Ngay sau Đại hội, tháng 3/1951, Mặt trận Việt Minh và Hội Liên Việt hợp nhất thành Mặt trận Liên Việt, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân.

    Ý nghĩa: Thể hiện quan điểm Đảng là Đảng của giai cấp công nhân, của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; củng cố hình thức Mặt trận dân tộc thống nhất.
    Liên hệ Chương 4 – Đảng & Nhà nước →
  12. 1952

    Chống tham ô, lãng phí, quan liêu – "giặc nội xâm"

    Trong tác phẩm "Thực hành tiết kiệm và chống tham ô, lãng phí, chống bệnh quan liêu" (1952), Người chỉ rõ tác hại của các tệ nạn này đối với kháng chiến và kiến quốc.

    Đọc chi tiết

    Người coi tham ô, lãng phí, quan liêu là "giặc nội xâm" – thứ giặc ở trong lòng, nguy hiểm không kém giặc ngoại xâm; chỉ ra rằng chúng là bạn đồng minh của thực dân và phong kiến. Người yêu cầu chống các tệ nạn này phải có sự lãnh đạo chặt chẽ, có sự tham gia của quần chúng, gắn với thực hành tiết kiệm và giáo dục đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư.

    Từ năm 1945, Người đã ký Sắc lệnh 64/SL (23/11/1945) thành lập Ban Thanh tra đặc biệt để giám sát bộ máy nhà nước, và nhiều sắc lệnh nghiêm trị tội tham ô, hối lộ.

    Ý nghĩa: Nội dung cốt lõi của tư tưởng Hồ Chí Minh về kiểm soát quyền lực, phòng chống tiêu cực trong Nhà nước và xây dựng Đảng – được lồng ghép trong màn chơi "Mật thư Xây dựng Đảng".
    Liên hệ Chương 4 – Đảng & Nhà nước →
  13. 1954

    Chiến thắng Điện Biên Phủ – "Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước"

    Chiến thắng Điện Biên Phủ (7/5/1954) và Hiệp định Giơ-ne-vơ (21/7/1954) kết thúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp; miền Bắc hoàn toàn giải phóng, đất nước tạm thời chia làm hai miền.

    Đọc chi tiết

    Ngày 19/9/1954, trên đường về tiếp quản Thủ đô, tại Đền Hùng, Người nói chuyện với cán bộ, chiến sĩ Đại đoàn Quân Tiên Phong: "Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ lấy nước". Ngày 10/10/1954, Thủ đô Hà Nội được giải phóng; cuối năm 1954, Trung ương Đảng, Chính phủ và Chủ tịch Hồ Chí Minh trở về Hà Nội.

    Ý nghĩa: Thắng lợi của đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại.
    Liên hệ Chương 5 – Đại đoàn kết & đoàn kết quốc tế →
  14. 1955 – 1960

    Xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc

    Miền Bắc bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam được thành lập (9/1955). Đại hội III của Đảng (9/1960) xác định đường lối xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất nước nhà.

    Đọc chi tiết

    Người chỉ ra đặc điểm to nhất của nước ta trong thời kỳ quá độ là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủ nghĩa xã hội không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Năm 1958, Người viết bài "Đạo đức cách mạng" và nói chuyện tại lớp học chính trị của giáo viên (13/9/1958) với câu nói nổi tiếng về "trồng người". Hiến pháp năm 1959 được Quốc hội thông qua (31/12/1959).

    Người đặc biệt quan tâm đến con người: "Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa".

    “Vì lợi ích mười năm thì phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm thì phải trồng người.”— Hồ Chí Minh (13/9/1958)
    Ý nghĩa: Giai đoạn phát triển mạnh mẽ tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội, thời kỳ quá độ, về đạo đức và con người (Chương 3, Chương 6).
    Liên hệ Chương 6 – Văn hóa, đạo đức, con người →
  15. 17/7/1966

    "Không có gì quý hơn độc lập, tự do!"

    Khi đế quốc Mỹ leo thang chiến tranh phá hoại miền Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh ra Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước, khẳng định quyết tâm kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn.

    Đọc chi tiết

    Người tuyên bố: "Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! Không có gì quý hơn độc lập, tự do!". Câu nói trở thành chân lý của thời đại, nguồn sức mạnh to lớn động viên toàn dân tộc.

    “Không có gì quý hơn độc lập, tự do!”— Hồ Chí Minh (17/7/1966)
    Ý nghĩa: Đỉnh cao của tư tưởng Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc – giá trị thiêng liêng nhất, cũng là mật thư của màn chơi "Mật thư Độc lập".
    Liên hệ Chương 3 – Độc lập dân tộc & CNXH →
  16. 1965 – 1969

    Bản Di chúc thiêng liêng

    Ngày 10/5/1965, Chủ tịch Hồ Chí Minh bắt đầu viết Di chúc; trong các năm 1966, 1968, 1969 Người tiếp tục sửa chữa, bổ sung. Năm 1969, Người còn viết bài "Nâng cao đạo đức cách mạng, quét sạch chủ nghĩa cá nhân" (3/2/1969).

    Đọc chi tiết

    Di chúc đề cập những vấn đề hệ trọng: về Đảng (giữ gìn đoàn kết thống nhất, thực hành tự phê bình và phê bình, mỗi đảng viên phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư, giữ gìn Đảng thật trong sạch); về đoàn viên thanh niên (bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là việc rất quan trọng và rất cần thiết); về nhân dân lao động; về cuộc kháng chiến chống Mỹ nhất định thắng lợi; về phong trào cộng sản thế giới; về công việc sau chiến tranh, trước hết là chỉnh đốn lại Đảng.

    Phần "việc riêng", Người mong muốn được hỏa táng, tro chia làm ba phần cho ba miền đất nước – thể hiện lối sống giản dị, khiêm tốn, suốt đời vì nước vì dân.

    “Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, và góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới.”— Hồ Chí Minh, Di chúc
    Ý nghĩa: Di chúc là sự kết tinh tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; đặc biệt là những căn dặn về xây dựng, chỉnh đốn Đảng cầm quyền (Chương 4) và về đạo đức cách mạng (Chương 6).
    Liên hệ Chương 4 – Đảng & Nhà nước →
  17. 2/9/1969

    Người đi xa

    Chủ tịch Hồ Chí Minh từ trần lúc 9 giờ 47 phút ngày 2/9/1969 tại Hà Nội, hưởng thọ 79 tuổi. Lễ truy điệu được tổ chức trọng thể tại Quảng trường Ba Đình ngày 9/9/1969.

    Đọc chi tiết

    Do ngày Người mất trùng với ngày Quốc khánh, Bộ Chính trị khi đó quyết định công bố ngày mất là 3/9/1969; đến năm 1989, Bộ Chính trị chính thức công bố lại đúng ngày Người từ trần là 2/9/1969.

    Cả dân tộc và bạn bè quốc tế vô cùng thương tiếc. Biến đau thương thành hành động, quân và dân ta tiếp tục cuộc kháng chiến, đến mùa Xuân năm 1975 giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước – thực hiện trọn vẹn ước nguyện của Người.

    Ý nghĩa: Cả cuộc đời Hồ Chí Minh là tấm gương mẫu mực về đạo đức cách mạng: cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, suốt đời hy sinh cho độc lập dân tộc và hạnh phúc của nhân dân.
    Liên hệ Chương 6 – Văn hóa, đạo đức, con người →
Sau 1969

Di sản và giá trị trường tồn

Tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh trở thành tài sản tinh thần vô giá của Đảng và dân tộc, được thế giới tôn vinh.

  1. 29/8/1975

    Khánh thành Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh

    Lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Quảng trường Ba Đình được khánh thành ngày 29/8/1975, nơi gìn giữ thi hài của Người để đồng bào và bạn bè quốc tế đến viếng.

    Đọc chi tiết

    Cùng với Lăng, Khu Di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh tại Phủ Chủ tịch (nhà sàn, ao cá, nhà 67…) lưu giữ những hiện vật giản dị gắn với cuộc sống, làm việc của Người, minh chứng sinh động cho lối sống giản dị, thanh bạch của Bác.

    Ý nghĩa: Giữ gìn và phát huy giá trị di sản Hồ Chí Minh, giáo dục truyền thống cho các thế hệ mai sau.
    Liên hệ Chương 6 – Văn hóa, đạo đức, con người →
  2. 1987

    UNESCO tôn vinh Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa kiệt xuất

    Khóa họp lần thứ 24 Đại hội đồng UNESCO (1987) thông qua nghị quyết tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh là Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa kiệt xuất của Việt Nam, khuyến nghị các nước thành viên tổ chức kỷ niệm 100 năm ngày sinh của Người (1990).

    Đọc chi tiết

    Nghị quyết ghi nhận Người là biểu tượng kiệt xuất về quyết tâm của cả một dân tộc, đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, đóng góp vào cuộc đấu tranh chung của các dân tộc vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội.

    Ý nghĩa: Sự tôn vinh của cộng đồng quốc tế khẳng định tầm vóc và giá trị nhân văn, thời đại của tư tưởng Hồ Chí Minh.
    Liên hệ Chương 1 – Nhập môn & phương pháp →
  3. 6/1991

    Tư tưởng Hồ Chí Minh – nền tảng tư tưởng của Đảng

    Đại hội VII của Đảng (6/1991) lần đầu tiên khẳng định: Đảng lấy chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động.

    Đọc chi tiết

    Các Đại hội tiếp theo tiếp tục phát triển nhận thức về tư tưởng Hồ Chí Minh; Đại hội XI (2011) nêu khái niệm tư tưởng Hồ Chí Minh là "một hệ thống quan điểm toàn diện và sâu sắc về những vấn đề cơ bản của cách mạng Việt Nam". Việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh được Đảng xác định là nhiệm vụ thường xuyên.

    Đối với sinh viên, học tập tư tưởng Hồ Chí Minh giúp nâng cao năng lực tư duy lý luận, bồi dưỡng đạo đức, phẩm chất cách mạng và rèn luyện phương pháp, phong cách công tác.

    “Học để làm việc, làm người, làm cán bộ.”— Hồ Chí Minh
    Ý nghĩa: Đây là nội dung trọng tâm của Chương 1: khái niệm, đối tượng, phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa học tập môn Tư tưởng Hồ Chí Minh.
    Liên hệ Chương 1 – Nhập môn & phương pháp →

Thư viện tư liệu

🎬 Video Chương 3

Toàn văn Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập ngày 2/9/1945

Thước phim tư liệu tại Quảng trường Ba Đình – khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Nguồn: Báo VietNamNet (YouTube)

🎬 Video Chương 3

Ký ức hào hùng ngày Quốc khánh 2/9/1945

Không khí ngày Độc lập qua lời kể và tư liệu lịch sử.

Nguồn: VTV24 (YouTube)

🖼 Hình ảnh Chương 3

Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập (2/9/1945)

Tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Nguồn: Mặt trận Việt Minh, Wikimedia Commons – Public domain

🎙

🎧 Âm thanh Chương 3

Giọng đọc Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Bản ghi âm Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc lại Tuyên ngôn Độc lập, được thực hiện sau năm 1954 (không phải bản ghi trực tiếp ngày 2/9/1945).

Nguồn: Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, qua Wikimedia Commons – Public domain

Video được nhúng từ kênh YouTube của đơn vị sản xuất; hình ảnh và âm thanh là tư liệu thuộc phạm vi công cộng (Public domain) trên Wikimedia Commons. Bản quyền thuộc về các đơn vị được ghi nguồn.